Một số điểm mới nổi bật của Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) năm 2026
Một số nội dung đáng chú ý như
sau:
1. Mở rộng đối tượng được trợ
giúp pháp lý
Trước đây, theo Điều 7 Luật Trợ
giúp pháp lý 2017, người được trợ giúp pháp lý bao gồm:
- Người có công với cách mạng;
- Người thuộc hộ nghèo;
- Trẻ em;
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện
pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân;
- Người bị buộc tội thuộc hộ cận
nghèo;
- Nạn nhân, người đang trong quá
trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi
cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
- Người thuộc một trong các trường
hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ
và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam;
Người cao tuổi; Người khuyết tật; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Người
nhiễm HIV.
Theo Điều 7 Luật Trợ giúp
pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa
đổi) 2026, người được trợ giúp pháp lý bao gồm:
- Người có công với cách mạng;
cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ;
- Người thuộc hộ nghèo, người thuộc
hộ cận nghèo;
- Người nhiễm chất độc da cam;
- Người khuyết tật;
- Trẻ em;
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất
ít người;
- Người được hưởng trợ cấp xã hội
hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình,
người nhiễm HIV;
- Người lao động có thu nhập thấp
là người bị buộc tội, bị hại;
- Người có khó khăn đột xuất do gặp
thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp
đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện
pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa
thành niên;
- Nạn nhân, người đang trong quá
trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi
cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
- Cá nhân bị thiệt hại mà không
thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước;
- Người nước ngoài theo điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
được trợ giúp pháp lý;
- Người được trợ giúp pháp lý
khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, Luật sửa đổi đã bổ
sung nhóm "người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại"
nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự. Đồng thời,
bổ sung quy định mở "người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của
pháp luật" để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong
từng giai đoạn.
2. Bổ sung quy định về điều kiện
thành lập Chi nhánh
Theo Điều 11 Luật Trợ giúp pháp
lý 2017, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được quy định như sau:
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do UBND cấp tỉnh thành
lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước có thể có Chi nhánh.
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được thành lập tại các huyện ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức
tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ nhu cầu và điều kiện
thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
- Chính phủ quy định chi tiết về
tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
(Hình ảnh có sử dụng
trí tuệ nhân tạo AI)
Theo Điều 11 Luật Trợ giúp
pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa
đổi) 2026 thì quy định trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước như sau:
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do UBND cấp tỉnh thành
lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước có thể có Chi nhánh.
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu
trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội
và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định
thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
- Chính phủ quy định về tổ chức,
hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước; trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, sáp nhập Chi
nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Theo đó, việc thành lập Chi nhánh
của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội
và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định
nhằm bảo đảm tính chủ động, phù hợp thực tiễn và nâng cao hiệu quả tổ chức thực
hiện.
3. Siết chặt hơn tiêu chuẩn,
điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý
Trước đây theo Điều 19 Luật Trợ
giúp pháp lý 2017 quy định tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý như sau:
Công dân Việt Nam là viên chức của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành
trợ giúp viên pháp lý:
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
- Có trình độ cử nhân luật trở
lên;
- Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc
được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc
tập sự trợ giúp pháp lý;
- Có sức khỏe bảo đảm thực hiện
trợ giúp pháp lý;
- Không đang trong thời gian bị xử
lý kỷ luật.
Theo Điều 19 Luật Trợ giúp
pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý
(sửa đổi) 2026 quy định tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý như sau.
Cụ thể, công dân Việt Nam là viên
chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở
thành trợ giúp viên pháp lý:
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
- Có trình độ cử nhân luật trở
lên;
- Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc
được miễn đào tạo nghề luật sư;
- Đã qua thời gian tập sự
hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ
giúp viên pháp lý;
- Có sức khỏe bảo đảm thực hiện
trợ giúp pháp lý.
Theo đó, Luật mới đã sửa đổi
tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý theo hướng siết chặt hơn tiêu chuẩn, điều kiện
bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, phòng ngừa rủi ro liên
quan đến phẩm chất đạo đức.
4. Bổ sung các trường hợp
không được bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý
Theo khoản 1 Điều 21 Luật
Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Luật Trợ giúp
pháp lý (sửa đổi) 2026 quy định, Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp
thẻ trợ giúp viên pháp lý cho người đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định
tại Điều 19 của Luật này mà không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ
luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
- Đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án mà chưa được xóa
án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do
vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
Như vậy, Luật mới đã bổ sung
các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ đối với người đang bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc,
người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng,
rất nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
5. Sửa đổi căn cứ miễn nhiệm,
thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý
Theo khoản 1 Điều 22 Luật Trợ
giúp pháp lý 2017 quy định, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ
trợ giúp viên pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp:
- Không còn đủ tiêu chuẩn làm trợ
giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật Trợ giúp pháp lý;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức
buộc thôi việc;
- Chuyển công tác khác hoặc thôi
việc theo nguyện vọng;
- Không thực hiện vụ việc tham
gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân
khách quan;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức
cảnh cáo từ lần thứ 02 trở lên hoặc cách chức do thực hiện hành vi quy định tại
điểm a, b, đ hoặc e khoản 1 Điều 6 của Luật này;
- Đang bị cấm hành nghề trong thời
gian nhất định theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Theo khoản 1 Điều 22 Luật
Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật Trợ giúp
pháp lý (sửa đổi) 2026 thì quy định, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu
hồi thẻ khi thuộc một trong các trường hợp:
- Không còn đủ tiêu chuẩn trợ
giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này;
- Không thực hiện vụ việc tham
gia tố tụng trong thời gian 12 tháng liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân
khách quan;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức
buộc thôi việc;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức
cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này;
- Đang trong thời gian bị cấm
hành nghề trợ giúp pháp lý theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
- Bị kết án mà bản án đã có hiệu
lực pháp luật;
- Bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
Theo đó, Luật mới rút ngắn
thời gian không tham gia tố tụng từ 02 năm xuống 12 tháng; sửa đổi quy định về
hình thức kỷ luật làm căn cứ miễn nhiệm theo hướng chặt chẽ hơn.
6. Bổ sung cơ chế miễn nhiệm
đương nhiên với trợ giúp viên pháp lý
Theo khoản 2 Điều 22 Luật
Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật Trợ giúp
pháp lý (sửa đổi) 2026 quy định, trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm
và thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị trong các trường hợp
sau đây:
- Chuyển công tác khác; thôi việc
hoặc bị buộc thôi việc;
- Nghỉ hưu.
Đáng chú ý, Chủ tịch UBND cấp tỉnh
quyết định miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Như vậy, Luật mới bổ sung cơ
chế miễn nhiệm đương nhiên và thẻ trợ giúp viên pháp lý không còn giá trị khi
trợ giúp viên pháp lý nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển công tác, nhằm đơn giản
hóa thủ tục hành chính.
Vân Anh – VP HĐND - UBND xã